Hiển thị các bài đăng có nhãn bà cụ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bà cụ. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2009

Bà già bán quà vặt vui tính

71 tuổi, mỗi ngày bà phải gánh số tuổi đời đã luống cùng với gánh hàng đi cơ động khắp nơi ở Sài Gòn để kiếm tiền nuôi đứa con gái bị tâm thần nằm ở Biên Hoà. Khổ, nghèo, nhưng bà lại luôn nhìn xuống và lạc quan thấy mình còn hơn nhiều người…

Bà già gánh “Nam tiến” từ hơn tám năm nay. Mỗi ngày với gánh hàng rong nặng nhọc và thu nhập ít ỏi, nhưng bà vẫn luôn vui tính nhìn đời. Ảnh: Hồng Thái

Đêm Sài Gòn. Mưa lất phất. Trên đường, một bà già với đôi quang gánh chậm chạp từng bước nhọc nhằn… Ai cũng quen gọi bà là bà già gánh, ít ai biết tên thật của bà là Nguyễn Thị Anh, năm nay 71 tuổi, quê ở tận Đức Phổ, Quảng Ngãi. Bà già tóc bạc trắng, luôn bận bộ đồ nâu sờn cũ, trên vai là đôi quang gánh nặng khoảng 20 ký. Bà gánh đủ thứ như bánh, cóc, ổi… kiếm từng đồng nuôi đứa con gái 30 năm bị tâm thần.

Dặm trường vì con

Trời mưa, bán ế, bà loay hoay tìm chỗ ngồi trước mái hiên nhà trong con hẻm nhỏ. Ngồi lọt thỏm giữa đôi quang gánh, chép miệng nhìn trời, bà bồi hồi nhớ lại chuyện xưa, ngỡ như mới hôm qua. Năm 1978, bà bàng hoàng nhận tin chồng bị ung thư bao tử. Năm sau, đứa con gái thứ ba đang độ đôi tám, tự dưng phát điên. Chồng bệnh, con điên, những đứa còn lại thì nhỏ dại. Bị căn bệnh ung thư hành hạ, ông quát mắng, gay gắt. Đứa con gái thì quậy phá suốt ngày, phải nhốt nó lại rồi cho mấy đứa em canh giữ. Bà làm đủ mọi việc để có tiền nuôi chồng, nuôi con. Bà nói: “Phải chi người bị ung thư là tui, có lẽ sẽ đỡ khổ hơn!”.

Bà chịu đựng như vậy được sáu năm thì ông mất. Bấy giờ, bà mới tập trung tìm thầy chữa bệnh cho con. Bà kể: “Tui bán cả ruộng vườn để lo thuốc thang cho nó. Nghe ở đâu có thầy hay, là tui đều tới. Nhưng nó đỡ được một chút, rồi cũng vậy”.

Bốn người con bình thường của bà lần lượt lập gia đình, con gái út chưa lấy chồng thì lo cơm nước cho mẹ. Mùa màng thất bát, con cái có vợ có chồng, rồi cũng nghèo. Bà quyết định “Nam tiến” để có tiền nuôi đứa con bất hạnh.

Vào một ngày giữa năm 2000, gia đình ông giáo trên đường Tân Hoá, quận 11 thấy một bà già hơn 60 tuổi, dẫn theo một đứa con gái trông vẻ ngớ ngẩn, hỏi thuê phòng trọ. Được những người đi trước chỉ dẫn, bà bắt đầu cuộc sống quảy gánh trên vai, kiếm sống qua ngày. Bà đi bán cả ngày, để con trong phòng khoá lại. Được vài năm, bệnh tình cô con gái ngày càng nặng. Cô chửi bới, đập phá lung tung. Chịu không xiết, mọi người mách bà nên gởi con vào bệnh viện tâm thần ở Biên Hoà.

Mỗi ngày, từ 3 giờ sáng, bà gánh hàng ra Chợ Lớn mua thêm đồ bán, sau đó, gánh hàng ra tới bệnh viện Chợ Rẫy, rồi đi lòng vòng khắp các con hẻm bán hàng rong. Bà kể: “Trước cổng trường học bán được hơn, nhưng bị đuổi, chạy không kịp. Gánh đi như vầy bán lai rai cũng được!”.

Buổi sáng, bà lót dạ tô cháo hai ngàn đồng, hoặc chỉ một gói mì với nước sôi là xong buổi tối. Còn buổi trưa, bà được chủ quán cơm trên đường Phạm Đình Hổ, quận 6 “tài trợ” một suất cơm tình nghĩa. Làm lụng quần quật, vất vả kiếm được tiền lời buôn bán cả tháng cộng với 400 ngàn các con gởi vào, chỉ vừa đủ tiền viện phí mỗi tháng cho cô con gái. Bà cười: “Mừng quá cô ơi! Hôm qua tui đi thăm nó. Nó nhận ra tui là mẹ nó rồi. Bác sĩ nói nó bớt được năm phần! Tui mừng quá!”.

Vất vả, nhưng vẫn vui

Căn phòng trọ của bà ở Tân Hoá chỉ rộng chừng 15 mét vuông, nhưng chứa khoảng hơn 30 người. Buổi tối, chiếu trải khắp phòng. Mọi người nằm sát nhau như “cá mòi”. Lúc về tới nhà trọ là đã 12 giờ đêm, đèn đuốc tắt hết, bà mò mẫm tìm đến chỗ ngủ quen thuộc. Bà cười hì hì: “Hai đứa ni nằm hai bên đều mập, tui nằm chính giữa, bị tụi nó ép cứng ngắc”.

Có hôm chân bị sưng như chân voi, bà khập khiễng quảy đôi quang gánh trên vai đi từng bước. Được một đoạn vài mươi thước, bà lại đặt quang gánh xuống nghỉ. Một ngày buôn bán kiếm được hơn chục ngàn. Bà cười hớn hở: “Hồi nãy gặp cô ni, mua giùm ba chục trứng cút, dư ba ngàn, cổ bảo khỏi thối”.

Không hiểu sức mạnh từ đâu để bà già gánh có thể sống như vậy suốt tám năm qua. Bà cười bảo: “Quen rồi cô ơi!”. Rồi bà khoe: “Bây giờ mập lên được ba ký, lúc trước tui nặng có 39 ký hè!”.

Trung thu năm nay, có người tặng bà một chiếc bánh. Bà cẩn thận gói ghém rồi nhờ người quen gởi về quê cho các cháu. “Tội nghiệp! Từ nhỏ tới giờ, tụi nó chưa biết mặt cái bánh trung thu là cái ni!”. Thực ra, bản thân bà cũng chưa từng biết cái vị bánh trung thu ra sao. Bà kể, có hôm đi bán thấy người ta bày bánh thấy ngon, nhưng mắc quá, không dám mua.

Bà già lại hay mủi lòng vì người khác. “Có bà ni còn khổ hơn tui nữa. Nhà bả ở thành phố, có thằng con trai bị điên đập phá suốt ngày. Còn bà ni ở sát phòng trọ, hơn 80 tuổi bị con cháu đối xử tệ bạc, phải nhảy cầu tự tử. Tội lắm!”, bà trầm ngâm kể.

SGTT

Bà cụ & chiếc xe chó

Một phụ nữ nhà quê. Một con người luôn ném hết nghị lực ra giữa trời đất để sống. Bảy mươi ba tuổi. Tên Cao Thị Mỹ. Mỹ trong nghĩa từ Hán – Việt là “cái đẹp”. Nhưng ít ai gọi cái tên ấy, người ta thường nhắc đến bà một cách nửa lạ nửa quen: bà cụ có chiếc xe chó

10 năm nay, bà con xã Phước Vinh, khu vực biên giới, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã quen với hình ảnh bà cụ và chiếc xe chó. Bao năm qua chó Vàng cứ lầm lũi kéo xe chạy trên đường, gánh trên vai gánh nặng cuộc đời của bà chủ tội nghiệp của nó.

Cỗ xe cuộc đời

Bà Mỹ từng có chồng, có con. Chồng mất, người phụ nữ ấy hết lặn lội nuôi con, đến nuôi dâu, rồi nuôi cháu. Mấy mẹ con tần tảo xây được căn nhà. Nhà mới chưa ráo hồ thì người ta khiêng xác đứa con trai đầy máu về đặt trước mặt bà. Một “hung thần đường phố” nào đó đã cướp sinh mạng nó rồi bỏ trốn. Người mẹ ấy lặng lẽ bán cái nhà mới xây để lo tang ma và xây một cái mả tươm tất cho con.

Bấy giờ, tài sản đáng giá của người mẹ chỉ còn cái thân già, ba con chó và một con heo. Con trai chết rồi, chẳng còn ai đỡ đần. Chỉ còn đàn chó, con heo trung thành quấn dưới chân bà. Ban đầu bà lấy mấy thanh tre, ghép với hai bánh xe đạp rồi dạy cho con heo kéo. Cái loài ủn ỉn hay ăn hay ngủ chỉ kéo được mấy bước rồi lăn ra nghỉ mệt. Bà thử buộc xe vào cổ ba con chó. Không ngờ chúng kéo chạy bon bon. “Vậy là trời còn thương, cho một kế sinh nhai, di chuyển”. Bà tự nhủ rồi chất một bao gạo, một giỏ xách đựng quần áo và di ảnh của con trai lên cỗ xe chó ấy. Cứ chó kéo xe đi trước, bà đạp xe tất tả theo sau. Người và chó đi về hướng thị xã. Ngày đi. Đêm nghỉ bên lề đường. Ròng rã gần 70 cây số đến toà án tỉnh. Người mẹ quyết tâm đòi công lý cho đứa con xấu số.

Không nhớ nổi bao lâu ăn ở vạ vật bên đường để chờ đến ngày người ta tìm ra kẻ gây tai nạn, tuyên án, người đàn bà già cỗi ấy mới cùng ba con chó lủi thủi về. Đến quê, bà tặng hết số tiền người ta đền mạng sống đứa con trai cho cô con dâu, nó cũng nghèo khó và bạc phước như bà. Còn bà, dắt mấy chú chó xuống chiếc xuồng ba lá sống một đời lênh đênh.

Cuộc đời du cư cứ buổi sớm ra đồng mò ốc, mót lúa, mót mì…, buổi chiều lại cùng mấy con chó chở những thứ vừa kiếm được ra chợ để đổi lấy thức ăn. Hàng năm trời, giấc mơ của con người ấy và mấy chú chó cũng bập bênh trên con xuồng neo ở sông Vàm Cỏ. Sau trận bệnh tưởng chết trên xuồng, bà mới mua khung chòi tre với giá bằng bốn ký thịt bò. Người ta cho dựng nhờ trên một nền đất hoang bốn mùa lộng gió bên kia sông. Vậy là bà có một nơi bình yên để treo di ảnh đứa con thân yêu.

Robinson trên đồng

Nghèo, nhiều người nghèo. Khổ, nhiều người khổ. Nhưng, con người ấy đã cho tôi cảm xúc rất lạ. Lạ từ nụ cười khanh khách trên khuôn mặt đen nhẻm đầy bùn đất. Lạ từ những giọt nước mắt lăn vội khi bỏ di ảnh con vô giỏ bàng rồi treo lên cỗ xe chó chở theo những ngả đường mưu sinh. Lạ từ chuyện lần mò trồng và chăm sóc cả một vườn khổ qua, bí đỏ, rau lang xanh mướt… để cho bà con hàng xóm ai thích ăn thì cứ hái miễn phí. Lạ từ cách mỗi ngày bà đều tìm và cắm một cành hoa tươi lên vách chòi tả tơi. Lạ đến những ngày bà nhịn đói để cho mấy chú chó được no. Lạ từ sự tự vấn bản thân khi trót làm chết mấy chú chó: “Trời! Tui già rồi, mà sao tui còn ngu hết biết vậy trời!”.

Gặp tôi, bà rớt nước mắt hai lần: lần thứ nhất nói tới con trai, lần thứ hai nhắc về mấy chú chó. Cỗ xe tam cẩu giờ chỉ còn một mình con Vàng kéo. Con chó được huấn luyện đeo tờ giấy đi chợ giúp bà cụ đã bị sợi dây quấn vào cổ chết khi thò đầu xuống sông uống nước. Con chó thứ hai từng bơi qua sông kiếm người cứu chủ nhân trong đêm bà bệnh nặng trên xuồng đã bị mấy bợm nhậu bắt trộm làm thịt.

Sau khi chèo xuồng đưa tôi qua sông, bà và con Vàng lặng lẽ quay về căn chòi le lói ánh đèn chong. Nơi ấy đêm đêm chỉ còn bà cụ và con chó ngủ còng queo trên chiếc nệm làm bằng rơm khô. Phía sau xe chúng tôi nặng trĩu mấy trái bí đỏ do chính tay bà cụ nghèo trồng và hái tặng. Dù thành phố đâu thiếu thứ rau trái gì. Dù đời sống vật chất ở vùng biên giới này chẳng dư thứ gì. Nhưng, biết đâu là giới hạn của thiếu và đủ. Thôi thì, cứ hồn nhiên cho và nhận những gì mình có – người đàn bà ít học ấy đã dạy tôi như thế!

SGTT